​Đánh giá kết quả 3 năm thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi (giai đoạn 2016 – 2018) (01/11/2018)

        Sáng 23/10/2018, trong chương trình Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng, Quốc hội đã nghe Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Báo cáo đánh giá 3 năm thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số (DTTS), miền núi.

        Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên trân trọng gửi đến bạn đọc một số nội dung báo cáo của Bộ Trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.
 

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc báo cáo trước Quốc hội

        Cả nước có 5.266 đơn vị hành chính cấp xã thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN)
Nước ta có 53 DTTS, với 13,4 triệu người, chiếm 14,6% dân số cả nước; sinh sống thành cộng đồng ở 51 tỉnh, thành phố, 548 huyện, 5.266 đơn vị hành chính cấp xã; đồng bào DTTS cư trú chủ yếu ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và Tây Duyên hải miền Trung, chiếm 3/4 diện tích của cả nước; là vùng núi cao, biên giới, có địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, nơi khó khăn nhất của nước ta; đồng thời cũng là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái; giàu tiềm năng và lợi thế về kinh tế nông lâm nghiệp, khoáng sản, thủy điện, du lịch…

       Về phân định xã thuộc 03 khu vực theo trình độ phát triển theo Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Tổng số có 5.266 xã thuộc vùng DTTS&MN, trong đó gồm: 1.313 xã khu vực I, 2.018 xã khu vực II, 1.935 xã khu vực III; về số thôn đặc biệt khó khăn có 20.176 thôn.

        Hiện nay có 118 chương trình chính sách của Trung ương đang có hiệu lực triển khai tại vùng DTTS&MN, 40 tỉnh có chính sách dân tộc đặc thù.

       Quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giai đoạn 2016 đến 2018, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các cấp, các ngành, cả hệ thống chính trị đã chú trọng thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS và miền núi, đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực. Từ năm 2016 đến nay, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 41 chương trình, chính sách, trong đó có 15 chính sách trực tiếp cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và 36 chính sách chung có ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số. 

        Như vậy, hiện nay có 118 chương trình, chính sách đang có hiệu lực triển khai thực hiện ở vùng DTTS&MN, trong đó có 54 chính sách trực tiếp hỗ trợ phát triển vùng DTTS, miền núi và hỗ trợ cho đồng bào DTTS và 64 chính sách chung có ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số.

        Ngoài các chính sách dân tộc do trung ương ban hành, đã có 40 tỉnh, thành phố vùng DTTS&MN đã ban hành các chính sách riêng của địa phương để hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số của tỉnh.

        Một số kết quả thực hiện chính sách dân tộc nổi bật trên các lĩnh vực 

        - Lĩnh vực giảm nghèo bền vững: Các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị đã nỗ lực cao độ cho công tác giảm nghèo ở vùng DTTS và miền núi, đạt kế hoạch Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đề ra. Đến cuối năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã ĐBKK, xã biên giới, xã ATK, vùng dân tộc thiểu số, miền núi giảm còn 35,28% (giảm 4,33% so với năm 2016); tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm còn khoảng 28,45% (giảm 3,02% so với năm 2016). Tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2017 ở các huyện nghèo giảm xuống còn dưới 40% (giảm khoảng 5% so với cuối năm 2016); tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn giảm 3-4%. Có 8 huyện thoát khỏi huyện nghèo theo Quyết định 30a của Thủ tướng Chính phủ; 14 huyện ra khỏi diện hưởng chính sách như huyện nghèo; 34 xã thực hiện Chương trình 135 đạt chuẩn nông thôn mới, đủ điều kiện ra khỏi diện đầu tư theo chương trình. Từ năm 2016 đến năm 2018, Chương trình 135 (Dự án 2 thuộc Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững) đã đầu tư 9.106 công trình, duy tu, bảo dưỡng 3.295 công trình; hỗ trợ trực tiếp cho 1,512 triệu hộ nghèo, cận nghèo.

        - Về xây dựng nông thôn mới vùng DTTS&MN: Triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, bước đầu đạt một số kết quả quan trọng. Đến tháng 8/2018, đã có 1.052/4.719 xã vùng DTTS, miền đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 22,29 % (toàn quốc đạt tỷ lệ 38,32%).

        - Về công tác bảo vệ và phát triển rừng: công tác bảo vệ và phát triển rừng ở vùng DTTS và miền núi có bước chuyển biến tích cực. Năm 2017, diện tích rừng bị thiệt hại là 1.451 ha (giảm 68% so với năm 2016); 9 tháng năm 2018, rừng bị thiệt hại 873 ha (giảm 22,2% so với 9 tháng năm 2017), về cơ bản rừng tự nhiên đã được quản lý tốt hơn.

        - Lĩnh vực tín dụng chính sách: từ 2016 đến 31/8/2018, dư nợ cho hộ đồng bào DTTS vay đạt 45.194 tỷ đồng với 1,4 triệu khách hàng là hộ dân tộc thiểu số đang thụ hưởng hầu hết các chương trình tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi đã góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống, làm chuyển biến nhận thức, cách thức làm ăn cho các hộ, giúp các hộ thoát nghèo, từng bước làm quen dần với cơ chế thị trường.

        - Lĩnh vực giáo dục đào tạo: Tiếp tục quan tâm đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng DTTS, miền núi, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào DTTS. Mạng lưới trường, lớp giáo dục mầm non, trường phổ thông ở vùng DTTS và miền núi tiếp tục được củng cố, mở rộng, nhất là các trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT), trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học dân tộc; chất lượng giáo dục của các trường PTDTNT được nâng lên. Hiện nay 100% xã vùng DTTS và miền núi có trường THCS, trường tiểu học, hầu hết các xã có trường, lớp học mầm non. Cả nước có 319 trường PTDTNT; 1.097 trường phổ thông dân tộc bán trú; 05 trường đào tạo dự bị đại học dân tộc. Đã có 51/53 DTTS có học sinh cử tuyển đi học đại học; học sinh là người DTTS ở vùng đặc biệt khó khăn được hỗ trợ chi phí ăn ở, học tập. Từ năm 2016 – 2018, đã tuyên dương trên 400 học sinh, sinh viên DTTS xuất sắc, tiêu biểu trong học tập, tạo sức lan tỏa, động viên học sinh, sinh viên nỗ lực, phấn đấu vươn lên.

        - Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân: Công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào DTTS chuyển biến tích cực, có mặt tiến bộ. Tiếp tục đầu tư xây dựng 433 trạm y tế xã vùng DTTS và miền núi, vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; từ năm 2016 đến 2018 đã cấp miễn phí thẻ BHYT cho 20,705 triệu lượt đồng bào DTTS; tăng cường y tế dự phòng và bố trí bác sỹ về làm việc tại trạm y tế xã, đạt 87,5%. Đã nỗ lực triển khai thực hiện Đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết ở 22 tỉnh vùng DTTS và miền núi, nhằm bảo vệ và nâng cao chất lượng giống nòi của một số DTTS đang bị suy giảm.

        - Lĩnh vực văn hóa thể thao và du lịch vùng DTTS&MN: Công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số cũng được chú trọng hơn. Hiện nay có 03 di tích quốc gia, 08 di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh liên quan đến đồng bào DTTS được xếp hạng di tích quốc gia; có 126 di sản văn hóa phi vật thể, 276 nghệ nhân ưu tú là người DTTS. Bước đầu đã xây dựng được hơn 5.000 cơ sở du lịch trải nghiệm góp phần tăng thu nhập cho người dân. Trong 03 năm, đã có 06 dân tộc được tổ chức ngày hội văn hóa riêng của dân tộc mình: Dao, Mường, Mông, Thái, Chăm, Khmer. 

        - Lĩnh vực thông tin truyền thông vùng DTTS&MN: Thông tin, tuyên truyền vùng DTTS và miền núi phát triển nhanh, cơ bản đáp ứng nhu cầu thông tin, liên lạc của nhân dân. Từ năm 2016 đến nay, đã chuyển phát 18 loại ấn phẩm báo, tạp chí với số lượng 51,2 triệu tờ; đài Truyền hình Việt Nam (kênh VTV5) sản xuất và phát sóng hầu hết các ngày trong tuần, gồm 22 thứ tiếng DTTS; năm 2017, đã xuất bản gần 100 đầu sách với khoảng 250.000 bản, phục vụ đồng bào DTTS. Mạng điện thoại di động phủ sóng khắp địa bàn miền núi thông qua việc đầu tư hàng nghìn cột phát sóng di động; có hơn 16.000 điểm giao dịch bưu chính viễn thông, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong mọi tình huống.

        - Xây dựng cán bộ, công chức, viên chức người DTTS: Tiếp tục quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người DTTS. Cán bộ công chức, viên chức là người DTTS giữ chức vụ lãnh đạo cấp tỉnh và cấp Bộ là 46 người (chiếm 12,16%); cấp Vụ và tương đương là 146 người (chiếm 4%), công chức, viên chức ở các Bộ ngành và cấp Sở là 170.437 người (chiếm 15%); trình độ, năng lực của cán bộ, công chức, viên chức người DTTS ngày càng được nâng lên, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao.

        Ngoài các lĩnh vực trên, công tác xây dựng, ban hành chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số rất ít người đã thật sự được quan tâm. Việc xây dựng và thực hiện chính sách hỗ trợ đối với người có uy tín trong cộng đồng được chú trọng; Thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đột xuất, đảm bảo an sinh xã hội, không để người nào bị thiếu đói không được trợ giúp.

        Kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi có nhiều chuyển biến tích cực

        Có thể nói, hệ thống chính sách dân tộc hiện nay khá đầy đủ, đã bao phủ toàn diện các lĩnh vực nhằm hỗ trợ kinh tế - xã hội vùng DTTS&MN. Việc thực hiện các chính sách đã phân cấp triệt để cho địa phương tổ chức thực hiện. Sau quá trình đầu tư hỗ trợ phát triển toàn diện vùng DTTS&MN đã đạt được các kết quả quan trọng: Cơ sở hạ tầng vùng DTTS và miền núi được đầu tư xây dựng, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Sau nhiều năm đầu tư, đến nay đã có 98,4 % xã có đường ô tô đến trung tâm; trên 98% hộ DTTS được sử dụng điện lưới quốc gia; 100% xã vùng DTTS và miền núi có trường mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở; 99,3% xã có trạm y tế trong đó có 70% xã có bác sỹ, trên 90% xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình, kết nối thông tin liên lạc hiện đại; 100% xã có điện thoại cố định và di động đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của người dân. Hộ nghèo ở các huyện 30a, xã ĐBKK giảm 3%-4%/năm, có nơi giảm trên 5%; trên 90% người dân được mua thẻ bảo hiểm y tế.

        Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách dân tộc vẫn còn một số hạn chế, bất cập

        Vẫn còn tình trạng nhiều đầu mối tham mưu, hướng dẫn, quản lý, thực hiện chính sách dân tộc; Đồng bào các DTTS sinh sống ở địa bàn kinh tế -xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; ở những địa phương nghèo, chủ yếu nhận hỗ trợ ngân sách từ Trung ương, khó có thể lồng ghép các chương trình, dự án để thực hiện chính sách dân tộc, trong khi đó ngân sách Trung ương lại chưa bố trí được nguồn vốn riêng để thực hiện một số chính sách, do vậy không đạt được mục tiêu các đề án, chính sách đã được phê duyệt; một số vấn đề bức xúc trong đồng bào DTTS như: Di cư tự phát, thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt… giải quyết chưa hiệu quả, đời sống của một bộ phận đồng bào DTTS còn nhiều khó khăn. Thu nhập bình quân của hộ đồng bào DTTS nhiều nơi chỉ bằng 40-50% bình quân thu nhập trong khu vực; tỷ lệ dân số DTTS chiếm 14,6% nhưng tỷ lệ hộ nghèo chiếm 52,7% số hộ nghèo của cả nước.

        Chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa ở vùng DTTS và miền núi tuy đã được nâng lên nhưng so với mặt bằng chung vẫn còn thấp, mức độ tiếp cận các dịch vụ so với vùng phát triển ngày càng chênh lệch. Vẫn còn khoảng 21% người DTTS trên 15 tuổi chưa đọc thông, viết thạo tiếng Việt. Tỷ lệ được cấp thẻ BHYT cao nhưng tỷ lệ khám, chữa bệnh còn. Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các DTTS gặp nhiều khó khăn, có nguy cơ mai một.

        Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức là người DTTS trong cơ quan nhà nước các cấp có xu hướng giảm; đa số các Bộ, ngành và địa phương chưa đạt được tỷ lệ theo quy định tại Quyết định 402/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Nguyên nhân của các hạn chế, bất cập nêu trên đã được Bộ trưởng Đỗ Văn Chiến chỉ ra: Xuất phát điểm của vùng dân tộc thiểu số và miền núi thấp, địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt, chất lượng nguồn nhân lực và mặt bằng dân trí thấp; rất khó khăn trong việc thu hút đầu tư; thiếu việc làm, đói nghèo, thiên tai, bệnh tật, đang là thách thức lớn; biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ ảnh hưởng lớn đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; nhận thức của một số cán bộ, công chức, viên chức còn phiến diện, chưa thật lòng quan tâm đến vùng dân tộc và miền núi…

         Một số nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu thực hiện chính sách dân tộc đến năm 2020 

        Chỉ đạo thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trọng tâm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao, tại phiên chất vấn (Phiên họp thứ 26), nhóm vấn đề thuộc trách nhiệm của Ủy ban Dân tộc (văn bản số 2198/TB-TTKQH ngày 31/8/2018 của Tổng Thư ký Quốc hội). 

         Tăng cường công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện quyết liệt các chính sách dân tộc đã ban hành; nỗ lực cao nhất để làm chuyển biến rõ rệt đời sống của đồng bào ở vùng DTTS, nhất là Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam bộ, Tây duyên hải miền Trung (như văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đề ra).

        Tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết, đánh giá đúng đắn tình hình, đề ra giải pháp thiết thực, hiệu quả để giải quyết căn cơ hơn tình trạng di dân tự phát, từng bước sắp xếp ổn định sản xuất và đời sống của nhân dân, nhất là đồng bào DTTS di cư đến các tỉnh Tây Nguyên, một số tỉnh Tây Bắc (khoảng 30.000 hộ DTTS).

        Tổ chức khảo sát, điều tra, hội thảo quốc gia, đánh giá đúng đắn kết quả thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2016-2018; chỉ rõ ưu điểm, hạn chế bất cập, nguyên nhân…Định hướng xây dựng chính sách dân tộc giai đoạn 2021-2030 theo hướng tích hợp, thiết thực, hiệu quả. Tập trung giải quyết căn bản những khó khăn, bất cập hiện nay để không ngừng nâng cao đời sống của đồng bào DTTS nhất là nhóm dân tộc rất ít người. Tiếp tục xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện hiệu quả các đề án, chính sách đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương. Tổ chức thành công đại hội các DTTS cấp huyện, cấp tỉnh (lần thứ 3), toàn quốc (lần thứ 2). Nhằm khẳng định thành tựu to lớn đã đạt được về đại đoàn kết các dân tộc; về phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS và miền núi; khẳng định niềm tin tuyệt đối của đồng bào các DTTS đối với Đảng và nhà nước; nỗ lực phấn đấu, vượt khó vươn lên, hội nhập và phát triển cùng với đất nước.

        Về kiến nghị, đề xuất: Bộ trưởng đề nghị Quốc hội xem xét, quyết định bổ sung nguồn vốn đầu tư công trung hạn để thực hiện một số đề án, chính sách đã được ban hành (Chính phủ sẽ trình tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 14). Đề nghị Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội tăng cường hơn nữa công tác giám sát để các cấp, các ngành thực hiện chính sách dân tộc thiết thực, hiệu quả hơn. Đề nghị Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các đoàn thể chính trị – xã hội tăng cường công tác giám sát, nhất là việc phân bổ nguồn lực đầu tư hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội vùng DTTS, vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, đảm bảo phát triển hài hòa giữa các vùng, miền trong cùng một địa phương.

Nguyễn Văn Nghĩa, Phòng Kế hoạch - Tổng hợp

bản đồ hành chính
Liên kết web

BAN DÂN TỘC TỈNH THÁI NGUYÊN

Địa chỉ: Số 17, đường Đội Cấn, phường Trưng Vương, TP Thái Nguyên

Điện thoại: 0280 3651 864 - Fax: 0280 3651 864

Email: bandantoc@thainguyen.gov.vn

Ghi rõ nguồn Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên (http://www.bandantoc.thainguyen.gov.vn) khi phát hành thông tin từ website này

Bản quyền © 2015 Ban Dân Tộc Tỉnh Thái Nguyên. Bảo lưu toàn quyền

Phát triển bởi Unitech trên nền tảng Chính quyền điện tử (Da Nang Egov Platform) do UBND TP Đà Nẵng chuyển giao

;;