Giảm thiểu tảo hôn – những thách thức cần giải quyết ()
        Những năm gần đây, nạn tảo hôn vẫn còn tồn tại, có xu hướng gia tăng, diễn biến ngày càng phức tạp, nhất là tại các tỉnh miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, thậm chí cả khu vực đô thị. Tảo hôn không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ra hậu quả rất lớn đối với cá nhân, gia đình và xã hội; làm gia tăng nhanh số lượng và giảm chất lượng dân số, trực tiếp ảnh hưởng đến việc chăm sóc, giáo dục trẻ em. 
Ảnh minh họa
        Ở Việt Nam, tảo hôn có ở tất cả các tỉnh/thành phố trong cả nước và ở tất cả các dân tộc. Tỷ lệ tảo hôn đặc biệt cao trong các cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) và ở các tỉnh có đông người đồng bào DTTS ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, một số tỉnh miền Trung và ở đồng bằng sông Cửu Long.
        Theo số liệu điều tra kinh tế - xã hội 53 DTTS, tỷ lệ tảo hôn chung trong các DTTS là 26,6%, cao gấp 18 lần so với dân tộc Kinh (1,4%) và gấp 10 lần so với tỷ lệ chung của cả nước (2,5%). Có 40/53 DTTS có tỷ lệ tảo hôn trên 20%; trong đó, 10 DTTS có tỷ lệ tảo hôn từ 20-30%, 11 DTTS từ 30-40%, 13 DTTS ở mức 40-50% và 6 DTTS có tỷ lệ tảo hôn từ 50-60%. Các dân tộc có tỷ lệ cao nhất thường rơi vào các dân tộc sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa.
        Tỉnh Thái Nguyên, theo số liệu báo cáo của từ các huyện, thành, thị, trong 05 năm (2009-2013) tỷ lệ các cặp có 01 người kết hôn trước tuổi theo quy định so với tổng số kết hôn là 310 cặp/43.130 cặp = 0,72%; có 9 cặp/43.130 cặp = 0,02% cả vợ, chồng đều chưa đến tuổi kết hôn. Đa số nam giới tảo hôn ở lứa tuổi từ 18 đến dưới 20 tuổi, đặc biệt có một số đối tượng kết hôn ở lứa tuổi từ 15 đến dưới 18 tuổi và nữ giới có cả lứa tuổi từ dưới 15 tuổi (chủ yếu ở dân tộc Mông).
        Theo kết quả điều tra số liệu về 53 dân tộc thiểu số, tính đến thời điểm tháng 8/2015 tỉnh Thái Nguyên đã có khoảng 34.758 người tảo hôn chiếm 2.96% dân số tỉnh. Trong đó, nam giới có 19.675 người, nữ giới là 15.083 người; nhiều nhất là người dân tộc Tày (11.390 người), Sán dìu (6.813 người), Nùng (5.538 người), Dao, Mông...
        Tảo hôn ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất, tâm sinh lý, sức khỏe sinh sản của người phụ nữ, nhất là trẻ em gái. Bởi chưa đủ tuổi trưởng thành, cơ thể phát triển chưa hoàn thiện, việc quan hệ tình dục sớm, mang thai, sinh đẻ, nuôi con sớm làm chậm quá trình phát triển thể chất tự nhiên của con người, dẫn tới thoái hóa và các di chứng bệnh tật, làm suy kiệt sức khỏe của bố, mẹ và con.
        Tảo hôn sẽ để lại hệ lụy lâu dài cho gia đình, xã hội, sẽ khiến cho nhiều người mất đi cơ hội học tập, làm việc và  tác động đến các vấn đề kinh tế - xã hội khác tạo thành một vòng luẩn quẩn không lối thoát trong đồng bào dân tộc thiểu số.
               
         Một số tồn tại, nguyên nhân vùng DTTS liên quan đến tỷ lệ tảo hôn cao và có xu hướng ngày càng tăng trong những năm gần đây:
        Thứ nhất, là do trình độ dân trí và ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế. Mặc dù công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình đã được chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, các cơ quan bảo vệ pháp luật quan tâm, nhưng một bộ phận người dân, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chưa nhận thức hoặc chưa nắm vững về chế độ hôn nhân và gia đình, quyền và nghĩa vụ cũng như các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình; về hậu quả, tác động tiêu cực của tảo hôn. Tình trạng học sinh bỏ học vẫn tái diễn, đặc biệt là vùng đặc biệt khó khăn do đi lại xa xôi, vất vả.
        -  Tỷ lệ nữ vị thành niên và thanh niên dân tộc thiểu số biết chữ là 83.2%, thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ này của nữ Kinh-Hoa là 99.1%%. Tỷ lệ trẻ em gái dân tộc thiểu số đi học đúng tuổi bậc tiểu học năm 2014 là 92.1% so với tỷ lệ này của nhóm dân tộc Kinh-Hoa là 98.9%; các số liệu tương ứng ở bậc trung học cơ sở là 76,64% so với 92.6%. Tỷ lệ bỏ học giữa chừng của học sinh DTTS vẫn còn cao: tỷ lệ học sinh DTTS học lên cấp trung học phổ thông mới chỉ đạt 41,8%, tương đương với 58,2% học sinh DTTS dừng lại việc học ở cấp trung học cơ sở. Đây cũng là độ tuổi phổ biến nhất của tảo hôn vùng DTTS.
        Tỉnh Thái Nguyên, năm 2016, tỷ lệ học sinh bỏ học là 0,46%, trong đó học sinh DTTS bỏ học chiếm 0,12%. Độ tuổi bỏ học lớn nhất là bậc THPT 1,64%, trong đó hoạc sinh DTTS bậc THPT bỏ học là 0,69%
        -  Kiến thức toàn diện về lây nhiễm HIV của trẻ em gái và phụ nữ trong độ tuổi 15-49  trong đồng bào dân tộc thiểu số có xu hướng thấp nhất: 29% so với 47% ở nhóm dân tộc Kinh.
        -  Tỷ lệ sinh con tại nhà trung bình của phụ nữ DTTS là 36,3%, trong đó có những dân tộc tỷ lệ này lên đến 70 - 90% như: Mông, Hà Nhì, La Hủ, La Ha, Lự, Mảng, Cống, Si La… đây đồng thời cũng là các dân tộc có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất và cũng là những dân tộc thiểu số (DTTS) có tỷ lệ tảo hôn cao nhất.
        Thứ hai là do tác động, ảnh hưởng mặt trái của cơ chế thị trường, sự phát triển của dịch vụ viễn thông, cơ sở hạ tầng, mạng xã hội... con người dần biến đổi để thích nghi được với những điều kiện mới. Họ trở nên năng động, sáng tạo, linh hoạt và độc lập hơn trong cách nghĩ, cách làm. Quan điểm đời sống của họ cũng trở nên cởi mở hơn, đơn giản hơn, không bị gò bó bởi quan niệm thành kiến đạo đức xưa. Dễ dàng thiết lập các mối quan hệ với nhau, chung sống như vợ chồng trở nên hết sức bình thường và làm gia tăng tỉ lệ mang thai sớm dẫn đến tăng tỉ suất sinh con vị thành niên. Đây cũng là nguyên nhân không nhỏ góp phần tới hiện trạng gia tăng tình trạng tảo hôn và kết hôn trẻ.
        Thứ ba là do sự can thiệp từ phía chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể đối với tảo hôn còn chưa mạnh mẽ, thiếu kiên quyết. Thực tế cho thấy, không chỉ những người dân, mà cả gia đình cán bộ, đảng viên là lãnh đạo xã, phường cũng tiếp tay, thậm chí tảo hôn còn diễn ra ngay trong gia đình của những người cán bộ này. (thậm chí lãnh đạo địa phương vẫn tới dự khi được mời đám cưới tảo hôn)
         Những khó khăn thách thức trong giảm thiểu tảo hôn
         Giảm thiểu tình trạng tảo hôn, đặc biệt trong đồng bào DTTS là một cuộc chiến lâu dài và nhiều thách thức:
        -  Vùng DTTS vẫn là vùng có tỷ lệ nghèo cao nhất cả nước (tỷ lệ nghèo chung của 53 DTTS là 23,1% cao gấp 5 lần so với tỷ lệ nghèo chung cả nước), trình độ dân trí thấp lại chịu ảnh hưởng và chi phối mạnh mẽ bởi các phong tục, tập quán trong đó có các phong tục và quan niệm lạc hậu trong hôn nhân.
        - Cơ hội tham gia việc làm được trả lương là rất thấp, do đó gia tăng các áp lực về sinh kế và lương thực cho gia đình. Nhiều DTTS cho con gái đi lấy chồng là một biện pháp giảm áp lực KT đối với gia đình.
        - Nhận thức và ý thức pháp luật của người dân còn nhiều hạn chế.
        - Công tác truyền thông, phổ biến kiến thức cơ bản và kiến thức pháp luật còn nhiều bất cập nhất là tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa. Rào cản về ngôn ngữ là một yếu tố khiến cho việc tiếp cận truyền thông gặp nhiều khó khăn và không đem lại hiệu quả như mong muốn.
        - Chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của các bộ, ngành và chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể xã hội trong việc quan tâm và quyết tâm xóa bỏ tảo hôn ở vùng DTTS. Nhận thức của một số cán bộ chính quyền cơ sở còn xem nhẹ, thiếu hiểu biết, thậm chí có những trường hợp cán bộ xã vô tình tiếp tay cho tảo hôn hoặc tổ chức cho con em mình tảo hôn.
        - Kinh phí để triển khai thực hiện tình trạng tảo hôn còn hạn hẹp.
        - Thiếu gắn kết giữa các bộ/ngành và tổ chức xã hội để giải quyết vấn đề tảo hôn.
        - Thiếu cơ chế rõ ràng với nguồn lực phù hợp cho sự phối hợp liên ngành giữa các bộ/ngành;
        - Giảm thiểu tiến tới chấm dứt tảo hôn chưa được lồng ghép vào các chương trình/chiến lược quan trọng của các bộ/ngành.
        Một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng tảo hôn
        -  Thứ nhất: Nâng cao nhận thức về tác hại của tảo hôn và kết hôn trẻ em. Phải làm cho mọi người nhận thức cho được tác hại của tảo hôn và kết hôn trẻ em. Nên đưa nội dung giáo dục về hôn nhân và gia đình, dân số, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực vào chương trình đào tạo giáo dục từ cấp Tiểu học, Trung học cơ sở.
        - Thứ hai: Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền. Tuyên truyền, phổ biến những quy định của pháp luật có liên quan đến hôn nhân gia đình, tảo hôn và kết hôn trẻ em, cũng như làm rõ những hậu quả, tác hại và hệ lụy do vấn nạn này gây ra. Qua đó, nhằm nâng cao nhận thức, dần dần thay đổi được hành vi, từng bước hạn chế và tiến tới chấm dứt hoàn toàn tình trạng tảo hônvà kết hôn trẻ em.
        - Thứ ba: Nâng cao vai trò trách nhiệm của UBND xã và cán bộ thôn, bản, các già làng trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số. Cần xử lý vi phạm hành chính, hình sự liên quan đến tảo hôn và kết hôn trẻ em, đặc biệt là các hành vi bị nghiêm cấm trong Luật Hôn nhân và gia đình. Có biện pháp xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm .
       - Thứ tư: Nâng cao vai trò của  Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức đoàn thể. Vận động hội viên giúp đỡ nhau phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng một gia đình ấm no, hạnh phúc và tiến bộ; giáo dục con em mình hiểu được hậu quả, tác hại của tảo hôn, đồng thời đấu tranh chống những quan điểm lạc hậu ngay từ trong gia đình mình và trong cộng đồng dân cư để khắc phục, bài trừ tệ nạn này.
        Phát huy hơn nữa vai trò của các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số. Nêu cao vai trò nòng cốt của mình gương mẫu đi đầu và vận động gia đình, người thân, nhân dân nơi cư trú chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
        - Thứ năm: Chính quyền các cấp cũng cần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình; mở lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho đội ngũ tuyên truyền viên, hòa giải viên, cộng tác viên dân số ở cơ sở... Đồng thời, xây dựng một chế tài đủ mạnh để răn đe các trường hợp vi phạm, nêu gương cho cộng đồng, bởi trên thực tế, vì nhiều lý do, chính quyền ở cơ sở vẫn còn phớt lờ hoặc dễ dãi với người vi phạm nên đã tạo ra tâm lý xem nhẹ pháp luật trong một bộ phận người dân..../
Dương Thị Hường Thái - Phòng Tuyên truyền và Địa bàn
Tài liệu tham khảo:
- Giảm thiểu tảo hôn tại Việt Nam- Các nỗ lực và những thách thức cần giải quyết: Nguyễn Thị Tư – Vụ trưởng Vụ DTTS-Ủy ban Dân tộc;
- Tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc- Thực trạng và một số giải pháp, kiến nghị: Nguyễn Thị Vân Anh
đăng trên trang web http://tcdcpl.moj.gov.vn;
- Tổng hợp báo cáo của các huyện;
- Kết quả điều tra số liệu về 53 dân tộc thiểu số.
Các tin khác