Kết quả thực hiện chương trình 135 giai đoạn 2011-2015. Một số giải pháp để thực hiện tốt chương trình trong thời gian tới. (30/06/2017)

        Qua việc triển khai thực hiện Chương trình 135, tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc, miền núi, các xã ATK trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên từng bước được phát triển, bộ mặt nông thôn miền núi đã thay đổi rõ rệt: công tác xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều thành quả đáng khích lệ; tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm nhanh hơn mức bình quân chung của tỉnh (bình quân 4,72% /năm);   
                                                                                                     
        Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng trung du miền núi Bắc Bộ, có 9 đơn vị hành chính cấp huyện (06 huyện, 02 thành phố, 01 thị xã ; trong đó có 04 huyện miền núi, 01 huyện vùng cao); 180 xã, phường, thị trấn, trong đó 62 xã, thị trấn thuộc vùng ATK. Có diện tích tự nhiên trên 3.500 km2, dân số hơn 1,2 triệu người, gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là trên 330 nghìn người, chiếm 27% dân số toàn tỉnh. 
 
 

        Vùng dân tộc thiểu số, miền núi có 124 xã, thị trấn, với 1.985 xóm, bản, dân số trên 660 nghìn người (chiếm gần 59% dân số toàn tỉnh), được phân định thành 3 khu vực (I, II, III) theo trình độ phát triển: có 25 xã, thị trấn thuộc khu vực I; 63 xã, thị trấn thuộc khu vực II và 36 xã thuộc khu vực III được công nhận theo quyết định số Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ. Tỷ lệ hộ nghèo 16,24%, giảm 2,98% so với năm 2016; hộ cận nghèo hộ 12,49% giảm 0,06% so với năm 2016.

        - Ban Dân tộc tỉnh đã phối hợp với các ngành liên quan tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh chỉ đạo việc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị định 05/2011/NĐ-CP của chính phủ về Công tác dân tộc đến các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở. 

        - Tỉnh ủy có Thông báo số 484 - TB/TU ngày 19/4/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Chương trình công tác Dân tộc tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012-2015; Chỉ thị số 45-CT/TU ngày 28/10/2014 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân tộc, công tác tôn giáo trên địa bàn tỉnh ; Kết luận số : 61- KL/TU ngày 07/10/2016 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên khóa XIX  về Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng An toàn khu, vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2017 – 2020.

        - Hội đồng nhân dân tỉnh: Ban hành Nghị quyết số : 12/2012/NQ-HĐND ngày 19/7/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XII kỳ họp thứ tư về Chương trình công tác dân tộc tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012 - 2015. Nghị quyết số : 16/NQ-HĐND ngày 18/5/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XIII kỳ họp thứ tư về Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng An toàn khu, vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2017 – 2020.

        - Ủy ban nhân dân tỉnh: Ban hành Quyết định số: 1985/QĐ-UBND ngày 04/9/2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành Chương trình công tác dân tộc tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012 - 2015. Quyết định số 1818/QĐ-UBND ngày 27/7/2015 về việc ban hành Kế hoạch hành động thực hiện chiến lược công tác dân tộc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020. Quyết định số : 3397/QĐ-UBND ngày 07/12/2015 V/v ban hành kế hoạch triển khai Quyết định số: 1557/QĐ-TTg ngày 10/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt một số chỉ tiêu thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với mục tiêu phát triển bền vững sau năm 2015.

        Theo Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/03/2007 của Thủ tướng Chính phủ: Năm 2011-2013: Tỉnh Thái Nguyên có 44 xã và 53 xóm ĐBKK ở xã KVII; Theo Quyết định số 2405/QĐTTg ngày 10 tháng 12 năm 2013  của Thủ tướng Chính phủ: Năm 2014-2015: Tỉnh Thái Nguyên có 82 xã (trong đó có 58 xã ATK) và 34 xóm ĐBKK ở xã KVII. 

        Thực hiện Quyết định số 551/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn khu vực hưởng chính sách đã tiến hành đầu tư xây dựng 585 công trình có: 373 công trình giao thông, 66 công trình thuỷ lợi, 90 công trình trường học, 33 công trình nhà văn hoá, 6 công trình trạm y tế , 2 công trình điện, 2 công trình chợ, các công trình khác 13 công trình, mở 127 lớp tập huấn và dạy nghề với 6.700 học viên tham gia; PTX đã hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, máy móc phục vụ sản xuất, chế biến cho  42.812  hộ, xây dựng 92 mô hình sản xuất hiệu quả; hỗ trợ giống cây, con: đã hỗ trợ 477 con đại gia súc, 3.743 con gia súc, 41.379 con gia cầm, 32.964 kg cây lương thực, 8.600 cây ăn quả, 302.988 cây công nghiệp, 44 tấn thức ăn chăn nuôi, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất 18.371 cái, phân bón 1.154 tấn, thuốc bảo vệ thực vật 82 liều, thuốc thú y 227 liều; thực hiện duy tu bảo dưỡng 69 công trình sau đầu tư; thực hiện chính sách hỗ trợ các dịch vụ đã hỗ trợ tiền ăn cho 19.300 lượt học sinh con hộ nghèo.

        Tổng số vốn thực hiện cả giai đoạn là 450.842 triệu đồng, trong đó: Xây dựng CSHT 348.447 triệu đồng chiếm 77,29%; duy tu bảo dưỡng 18.406 triệu đồng chiếm 4.1%; chính sách hỗ trợ học sinh con hộ nghèo 15.950 triệu đồng chiếm 3,54%; đào tạo cán bộ cơ sở 3.390 triệu đồng chiếm 0,75%; kinh phí quản lý chỉ đạo 695 triệu đồng

        - Được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh uỷ, sự lãnh đạo, điều hành của UBND tỉnh, sự hỗ trợ của các ngành, các cấp, các tổ chức xã hội trên địa bàn tỉnh, trong công tác xây dựng và thực hiện các chương trình, Đề án, chính sách dân tộc. 

        - Công tác xây dựng chính sách của Trung ương khi triển khai đến địa phương được cơ quan dân tộc thực hiện nghiêm túc, đúng trình tự, quy định từ khâu xây dựng đề án, thẩm định hồ sơ và các thủ tục cần thiết từ cấp huyện, xã đến cấp tỉnh để hoàn thiện Đề án, chính sách trình UBND tỉnh và UBDT ban hành. Ngoài các chương trình chính sách của Trung ương, việc xây dựng và triển khai các các chính sách đặc thù của tỉnh được cơ quan dân tộc nghiên cứu, điều tra khảo sát địa bàn, đối tượng hỗ trợ để xây dựng phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và đáp ứng nhu cầu cấp thiết của người dân.

        - Công tác triển khai thực hiện chính sách dân tộc được cơ quan dân tộc cụ thể hóa từ những quyết định, quy định và hướng dẫn của trung ương phù hợp với điều kiện của địa phương từ đó triển khai đúng với nội dung của chính sách. Ban hành các văn bản hướng dẫn chỉ đạo cụ thể và sát với nội dung chương trình để cơ sở thực hiện hiệu quả, đúng quy định. 

        - Chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc trong tỉnh được phát huy có hiệu quả, đã góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương. Chính quyền, các đoàn thể từ tỉnh đến huyện thường xuyên tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số, đã tạo sự thống nhất trong nhận thức, đồng thuận trong hành động để thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị tại địa phương, góp phần vào chương trình xây dựng phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh.

        Qua việc triển khai thực hiện Chương trình 135, tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc, miền núi, các xã ATK từng bước được phát triển, bộ mặt nông thôn miền núi đã thay đổi rõ rệt: công tác xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều thành quả đáng khích lệ; tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm nhanh hơn mức bình quân chung của tỉnh (bình quân 4,72% /năm); nguồn vốn của Chương trình 135 góp phần đáng kể cùng với Chương trình xây dựng nông thôn mới đã huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị; tính năng động sáng tạo của từng địa phương, đội ngũ cán bộ từng bước được nâng cao trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao; quá trình thực hiện đảm bảo công khai, dân chủ, tạo được khí thế thi đua sôi nổi, nhân dân hăng hái, tự giác tham gia xây dựng công trình (như những gương điển hình trong hiến đất, đóng góp tiền, vật liệu, ngày công lao động, tham gia quản lý, bảo vệ công trình ...).  

        Tuy nhiên việc triển khai thực hiện Chương trình 135 vẫn còn những khó khăn, hạn chế đó là: về nguồn vốn trung ương có năm giao còn chậm (vốn năm 2011, 2012, 2014) và việc hướng dẫn cơ chế thực hiện của các bộ ngành trung ương còn chậm; năm 2014-2015: trung ương bố trí chưa đủ so với định mức tại Quyết định số 551/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ( số vốn được bố trí mới chỉ đạt 66,7% kế hoạch); các công trình đầu tư mới, cần có sự phối hợp, lồng ghép với vốn chương trình xây dựng nông thôn mới và các nguồn khác; cơ chế quản lý, lồng ghép các nguồn lực còn thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ, vì vậy chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của chương trình, dự án (vì các chương trình cơ chế quản lý khác nhau, quy định việc đối ứng của người dân khác nhau); việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất còn chậm, có nội dung hướng dẫn chưa phù hợp đã ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện; thủ tục giao vốn ở địa phương rườm rà, chậm; tiến độ triển khai thực hiện chính sách ở một số huyện còn chậm, công việc thường dồn về cuối năm; việc tổng hợp báo cáo Chương trình 135 của các huyện với cơ quan thường trực ở tỉnh chưa đầy đủ, kịp thời, ở cấp huyện giao cho nhiều phòng chuyên môn triển khai thực hiện CT135; công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách của số huyện chưa được thường xuyên. 

        Nguyên nhân:
        - Nhận thức của cấp ủy, chính quyền ở một số địa phương về công tác dân tộc chưa đẩy đủ, chưa toàn diện; sự phối kết hợp trong việc tổ chức thực hiện công tác, các chính sách dân tộc giữa các ngành, các cấp chưa chặt chẽ, chưa cụ thể hóa và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của địa phương. 

        - Công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số tuy được quan tâm nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống tổ chức, cán bộ làm công tác dân tộc từ tỉnh đến cơ sở chưa ổn định, thiếu kinh nghiệm, đặc biệt là ở cấp xã chưa có cán bộ phụ trách theo dõi công tác dân tộc.

        - Số ít cán bộ và nhân dân trong vùng còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động tích cực vươn lên thoát nghèo.

        Để thực hiện tốt chương trình trong thời gian tới cần tập trung thực hiện tốt một số vấn đề sau:

        Trước hết về nhận thức:

        - Quán triệt, nâng cao hơn nữa nhận thức cho đội ngũ cán bộ, các cấp, các ban, ngành đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở về Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của chính phủ về Công tác dân tộc. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ xã, thôn bản và người dân để có khả năng tiếp nhận và tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện các chính sách, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

        - Tăng cường tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật thông qua trang thông tin điện tử cơ quan, Đài phát thanh và truyền hình tỉnh, huyện, các ấn phẩm báo tạp chí để kết nối với người dân; để người dân biết, giám sát và tham gia trực tiếp vào việc xây dựng thực hiện các kế hoạch, chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh.

        - Cần nhận thức rõ chính sách cho các xã ATK và vùng ATK đó là đầu tư hỗ trợ cho nhân dân  trong vùng và trong các xã ATK đây là vấn đề Đảng, Nhà nước ta tri ân và đền đáp công lao to lớn của nhân dân và các địa phương trong vùng trước trước đây trong kháng chiến đã có nhiều công lao đóng góp đặc biệt cho cách mạng ( gồm có cả các xã từ KV-I; II; III và có cả xã ngoài vùng dân tộc miền núi). Còn các xã đặc biệt khó khăn là nơi mà ở đó có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, kinh tế chậm phát triển, tỉ lệ hộ nghèo cao, đời sống nhân dân còn khó khăn, cần có chính sách đầu tư, hỗ trợ để phát triển tiến kịp các nơi khác. 

        Về chỉ đạo, điều hành:

        - Cần rà soát đánh giá, tổng kết chính sách dân tộc, chính sách đối với vùng ATK, các xã ATK phù hợp với thời kỳ đổi mới, khắc phục những hạn chế yếu kém trong công tác xây dựng và thực hiện chính sách. 

       - Xây dựng chính sách và vấn đề thực hiện chính sách phải đồng bộ, đa mục tiêu, phát triển toàn diện kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi, Vùng ATK. Ưu tiên thực hiện các lĩnh vực: Phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao giáo dục, đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao khoa học công nghệ, hỗ trợ phát triển sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp.

        - Tăng cường công tác phối hợp trong việc cung cấp thông tin, dữ liệu giữa các ngành có liên quan từ Trung ương đến địa phương để phối hợp thực hiện chính sách có hiệu quả; đồng thời hạn chế việc xây dựng thực hiện các chính sách trùng chéo gây phân tán nguồn lực đầu tư làm cho hiệu quả thực hiện chính sách không cao.

        - Xây dựng ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách cụ thể, chi tiết, kịp thời cho địa phương tổ chức thực hiện chính sách, bố trí đủ và kịp thời nguồn kinh phí thực hiện các chính sách.

        Về cơ chế: 

        - Đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, tăng cường sự tham gia của người dân trong việc xây dựng, thực hiện chương trình, các nội dung của chương trình phải đảm bảo đáp ứng được yêu cầu khuyến khích người dân, người nghèo tự chủ vươn lên thoát nghèo, đảm bảo thoát nghèo bền vững; Tiếp tục triển khai kịp thời, hiệu quả các cơ chế, chính sách của trung ương và của địa phương về công tác dân tộc, chương trình xây dựng nông thôn mới, các chương trình, chính sách, dự án hỗ trợ giảm nghèo ...

        - Xây dựng chính sách đảm bảo ổn định, thời gian thực hiện lâu dài, dần tiến đến giảm cho không, quá trình xây dựng chính sách phải tiến hành điều tra khảo sát, có sự tham gia của người dân để đánh giá đúng điều kiện thực tế của từng khu vực, từng địa phương, từng đối tượng. 

        Về bố trí vốn: 

       - Tập trung ưu tiên bố trí ngân sách, lồng ghép các nguồn lực cho các dự án, chính sách hỗ trợ giảm nghèo theo các chính sách mà tỉnh đã ban hành theo các Nghị quyết, Quyết định của HĐND và UBND tỉnh. UBND tỉnh giao cho Sở Kế hoạch và Đầu tư xây dựng và báo cáo UBND tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết về nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn phân bổ vốn đầu tư phát triển và kinh phí sự nghiệp nguồn ngân sách nhà nước thuộc Chương trình 135, quy định về lồng ghép các nguồn vốn trên địa bàn, ưu tiên đầu tư trước cho các xã, thôn xóm khó khăn nhất, có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

        Về tổ chức thực hiện:

        - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người dân hiểu rõ về mục tiêu của Chương trình 135; Huy động các nguồn vốn lồng ghép để tập trung khuyến khích đầu tư hỗ trợ cho vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời, đẩy mạnh phát triển, hoàn thiện kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân ...

        - Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát tình hình triển khai thực hiện Chương trình 135, các chính sách dân tộc để phát hiện, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, đảm bảo kịp thời, đúng tiến độ và đúng quy định (đối tượng, chế độ, nội dung hỗ trợ, đầu tư...).
Và cần tập trung vào  một số nhóm chính sách cơ bản sau:

        Nhóm 1: Tập trung phát triển các vùng trọng điểm sản xuất hàng hóa, xây dựng một số chuỗi ngành hàng chiến lược phục vụ xuất khẩu và thị trường trong nước, trọng tâm là sản xuất nông - lâm nghiệp, nhằm kết nối thị trường cho các sản phẩm được đầu tư phát triển, tạo điều kiện tốt nhất để đồng bào DTTS được tham gia vào các vùng, chuỗi sản phẩm này.

        Nhóm 2: Tùy theo đặc điểm của điều kiện tự nhiên và từng vùng, tập trung tạo điều kiện để người dân tham gia cung cấp dịch vụ công ích (trồng rừng, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh, củng cố quốc phòng), hỗ trợ phát triển sản xuất kết nối với thị trường, ổn định cuộc sống. 

        Nhóm 3: Nâng cao trình độ nhận thức, thể trạng con người, năng lực phát triển sinh kế, từng bước hình thành vùng sản xuất sản phẩm hàng hóa gắn với thị trường.

        - Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống ở những nơi tập trung nhiều đồng bào DTTS, nhân dân trong các xã ATK, trong đó ưu tiên phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng cấp thôn/bản hoặc cụm thôn/bản.

        - Nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm cụm xã để tạo ra động lực có sức lan tỏa về kinh tế, chính trị và xã hội trong vùng.

        - Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực DTTS, trên tất cả các lĩnh vực của vùng DTTS, các xã ATK đồng thời xây dựng hệ thống cán bộ hỗ trợ cộng đồng.

        - Tăng cường thực hiện cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng nông thôn mới kết hợp phát triển và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn tri thức bản địa.

        - Thực hiện các chương trình tái tạo môi trường, bảo vệ tài nguyên tự nhiên, khôi phục cảnh quan, gìn giữ không gian phát triển cho người DTTS.

        - Lồng ghép chương trình/chiến lược/quy hoạch phát triển KTXH vùng, trong chương trình/chiến lược/quy hoạch phát triển KTXH chung của tỉnh, khu vực và cả nước để khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh lâu dài của vùng DTTS, vùng ATK của tỉnh.

        Để thực hiện tốt các nội dung nêu trên đề nghị Chính phủ và các Bộ ngành quan tâm tạo điều kiện cho tỉnh một số vấn đề sau:

        - Đề nghị Chính phủ sớm phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của CT135 giai đoạn 2017-2020.

        - Bổ sung vốn Chương trình 135 năm 2017 và các năm tiếp theo cho tỉnh đủ định mức quy định.

        - Đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT sớm có quy định, hướng dẫn về thực hiện dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế thuộc CT135.  

        - Đề nghị Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội sớm có quy định, hướng dẫn về hoạt động nhân rộng mô hình giảm nghèo thuộc CT135.

        - Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hoặc uỷ quyền cho các địa phương khẩn trương thẩm định nguồn vốn, danh mục công trình 135 khởi công mới theo Luật Đầu tư công giai đoạn 2016-2020./.

Nông Văn Trân - Chuyên viên cao cấp, Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên

Các tin khác
bản đồ hành chính
Quảng Cáo
   
Liên kết web

BAN DÂN TỘC TỈNH THÁI NGUYÊN

Địa chỉ: Số 17, đường Đội Cấn, phường Trưng Vương, TP Thái Nguyên

Điện thoại: 0280 3651 864 - Fax: 0280 3651 864

Email: bandantoc@thainguyen.gov.vn

Ghi rõ nguồn Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên (http://www.bandantoc.thainguyen.gov.vn) khi phát hành thông tin từ website này

Bản quyền © 2015 Ban Dân Tộc Tỉnh Thái Nguyên. Bảo lưu toàn quyền

Phát triển bởi Unitech trên nền tảng Chính quyền điện tử (Da Nang Egov Platform) do UBND TP Đà Nẵng chuyển giao