Thực hiện các chính sách phát triển giáo duc- đào tạo vùng dân tộc,miền núi tỉnh Thái Nguyên. ()

         Thái Nguyên là tỉnh miền núi có 9 đơn vị hành chính cấp huyện (trong đó có 4 huyện miền núi và 1 huyện vùng cao); Với 180 xã, phường, thị trấn có 124 xã, thị trấn miền núi, vùng cao. Trong đó: có 25 xã KVI, 63 xã KVII, 36 xã KVIII ( xã đặc biệt khó khăn). Tổng diện tích tự nhiên hơn 3.500 km-2, dân số hơn 1,2 triệu người, đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm trên 27% dân số toàn tỉnh, trong đó có 8 dân tộc có dân số đông là: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Mông, Hoa. 

        Trong những năm qua công tác giáo dục - đào tạo vùng dân tộc miền núi của tỉnh  đã có nhiều tiến bộ  góp phần tích cực cho việc phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài cho tỉnh và cho đất nước. Vùng dân tộc, miền núi  tỉnh đã cơ bản hoàn thành chương trình xóa nạn mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và từng bước phổ cập trung học cơ sở. Từ năm 2010 đến nay, nhờ có các chính sách hỗ trợ con em nghèo vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa, chế độ phụ cấp cho cán bộ, giáo viên, học sinh đã góp phần tăng tỉ lệ học sinh đến trường. Nhiều em đã có những nỗ lực vượt khó và đạt thành tích cao trong học tập, đội ngũ trí thức là con em DTTS ngày càng tăng cao, con em các dân tộc đều có người học đại học, cao đẳng và các trường dạy nghề. Chương trình cử tuyển đã góp phần tạo nguồn, hình thành đội ngũ cán bộ cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh là người DTTS. Nhìn chung, các chính sách giáo dục và đào tạo vùng dân tộc, miền núi đã góp phần đặc biệt quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo nhanh, bền vững vùng dân tộc, miền núi.

        Toàn tỉnh hiện có 677 cơ sở giáo dục thuộc tỉnh quản lý, trong đó có: 229 trường mầm non, 227 trường tiểu học, 189 trường THCS, 32 trường THPT. Bình quân mỗi xã có từ 1-2 trường mầm non, 1-3 trường tiểu học, 1 trường THCS và từ 5-6 xã có trường THPT, 6 trường Dân tộc Nội trú. 

        Vùng dân tộc và miền núi có 162 trường tiểu học; 132 trường trung học cơ sở (có 9 trường phổ thông dân tộc bán trú với 1.581 học sinh) và 5 trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS (trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS có quy mô mỗi trường 240-250 học sinh; tổng số 1.187 học sinh); có 01 trường THPTDT Nội trú tỉnh nằm trên địa bàn thành phố Thái Nguyên với quy mô 12 lớp, 362 học sinh. 
 

Đ/c Nông Văn Trân – Phó Trưởng Ban Dân tộc thăm khu ký túc xá Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS Phú Lương

        Mạng lưới trường lớp các cấp từ mầm non đến THPT được củng cố, phát triển một cách hợp lý, cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của con em đồng bào các dân tộc trong tỉnh. Toàn tỉnh có 346 điểm trường lẻ, trong đó ngành học Mầm non có 205 điểm trường, bậc tiểu học có 140 điểm trường, bậc THCS có 1 điểm trường. Các điểm trường lẻ đều nằm trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi, đã góp phần tích cực trong việc thu hẹp khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền. Tuy nhiên, vẫn còn số ít điểm trường vùng đặc biệt khó khăn cơ sở vất chất chưa đảm bảo, thiếu lớp, thiếu nhà ở cho giáo viên, thiếu trang thiết bị dạy và học.

        Qua các thời kỳ xây dựng và phát triển, Thái Nguyên được Trung ương xác định là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế của vùng  miền núi phía bắc; là tỉnh có hệ thống đường giao thông khá thuận lợi, là cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa giữa vùng miền núi phía bắc với vùng đồng bằng Bắc bộ; là một trong những trung tâm đào tạo lớn thứ 3 của cả nước góp phần quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng, cung cấp lực lượng tri thức, cán bộ khoa học kỹ thuật, công nhân lành nghề cho các tỉnh trong khu vực phía Bắc nói chung, tỉnh Thái Nguyên nói riêng.

        Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào DTTS không chỉ thể hiện qua các Chỉ thi, Nghị quyết, Nghị định, chương trình, dự án, mà còn bằng chiến lược cơ bản lâu dài, như Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2013, nhằm tạo động lực phát triển mạnh mẽ vùng đồng bào DTTS. Tiếp đó, ngày 14-3-2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 402/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển đội ngũ, cán bộ, công chức, viên chức người DTTS trong tình hình mới. Một trong những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm được đặt ra là công tác giáo dục- đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực cán bộ, công chức, viên chức người DTTS. Theo đó, nhà nước tiếp tục triển khai chương trình đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng để củng cố, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, các kỹ năng làm việc, trong đó có tiếng DTTS cho cán bộ, công chức, viên chức người DTTS, bao gồm cả cán bộ, công chức, viên chức người DTTS nhưng còn hạn chế về khả năng giao tiếp bằng tiếng DTTS. Nhờ có chính sách đúng đắn, công tác giáo dục đào tạo trong vùng đồng bào các DTTS những năm gần đây đã đạt được những kết quả rất tích cực. Thực tế cho thấy, các chính sách của Nhà nước thực sự đi vào cuộc sống và đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục, đào tạo miền núi, vùng DTTS phát triển. 

        - Củng cố mạng lưới trường lớp vùng DTTS và miền núi. Thực hiện Quyết định 2123/QĐ-TTg, ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc ít người giai đoạn 2010 – 2015, Quyết định 1640/QĐ-TTg ngày 21/9/2011 của Thủ tướng Chính Phủ về việc phê duyệt đề án củng cố và phát triển hệ thống trường PTDT nội trú giai đoạn 2011 – 2015.

        Tỉnh Thái Nguyên được đầu tư 4 trường Phổ thông DTNT THCS với kinh phí trên 161 tỷ đồng ở các huyện, gồm các trường:  PTDT nội trú THCS Định Hóa, PTDT nội trú THCS Đại Từ, PTDT nội trú THCS Phú Lương, PTDT nội trú THCS Đồng Hỷ. Với quy mô: 250 học sinh/1 trường. Đưa tổng số trường PTDTNT toàn tỉnh lên 6 trường (05 trường PTDTNT THCS thuộc 5 huyện miền núi, 01 trường PTDTNT THPT). 

        Giai đoạn năm 2017-2020 thực hiện chương trình nâng cấp, mở rộng qui mô các trường phổ thông DTNT, phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ học sinh người dân tộc thiểu số được học ở các trường  phổ thông dân tộc nội trú đạt trên 8%, đồng thời 100% số trường phổ thông DTNT đạt chuẩn quốc gia.

        Chính sách đầu tư các trường PTDT nội trú THCS đã giúp cho các em học sinh DTTS ở những xóm, xã đặc biệt khó khăn, được đến trường thuận lợi, gia đình không phải lo kinh phí học tập, sinh hoạt cho các em, do đó gia đình cũng bớt khó khăn về kinh tế.
 

Lãnh đạo Ban Dân tộc trò chuyện với các em học sinh dân tộc Mông xóm Trung Sơn, xã Quang Sơn, huyện Đồng Hỷ

        - Chính sách cho học sinh, sinh viên vùng đặc biệt khó khăn đã được quan tâm và triển khai đồng bộ nhiều chính sách. Trong 5 năm (2011-2016) đã hỗ trợ cho các em học sinh hơn 310 tỷ đồng, với gần 500.000 lượt học sinh, như các chính sách:

       - Chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và đầu tư hỗ trợ cơ sở vật chất cho trường phổ thông dân tộc bán trú theo Quyết định 85/2010/QĐ-TTg ngày 21/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ

        - Chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn theo Nghị định 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

         - Chính sách cấp bù học phí cho các cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông công lập có đối tượng được miễn giảm học phí và chi phí hỗ trợ học tập theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010, Nghị định số 74/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013, NĐ 86/2015/NĐ- CP ngày 2/10/2015 của Chính phủ

      - Chính sách đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học dân tộc theo Thông tư liên tịch số109/2009/TTLT/BTC-BGD ĐT ngày 29/5/2009 của Liên bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo

        - Chính sách hỗ trợ cho trẻ em mẫu giáo và phát triển giáo dục mầm non theo Quyết định số 239/QĐ-TTg ngày 09/02/2010 và Quyết định số 60/2011/QĐ-TTg ngày 26/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ. 

        - Chính sách hỗ trợ tiền ăn, tiền nhà ở cho học sinh THPT theo Quyết định số 12/2013/NĐ-CP ngày 24/1/2013, Nghị định 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ. 

        - Riêng chính sách cử tuyển cho học sinh vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo Nghị định 134/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 và Nghị định định 49/2015/NĐ-CP ngày 15/5/2015 của Chính phủ, từ năm 2009-2016 tỉnh đã cử  trên 100 học sinh đi học tại các cơ sở giáo dục  đại học (kinh phí đào tạo cử tuyển  năm học 2014 -2015 cho 93 em sinh viên lên đến hơn 2 tỷ đồng, trong đó thời gian đào tạo cử tuyển đại học từ 5-7 năm)

         Nhờ có nhiều chính sách đầu tư cho giáo dục vùng dân tộc và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn, nhất là chính sách cử tuyển, hỗ trợ tiền học nội trú, bán trú, cấp gạo, miễn học phí… nên các em học sinh trong vùng dân tộc và miền núi đã  có điều kiện học tập tốt hơn, giảm nhiều tình trạng giáo viên phải vận động học sinh đến trường, trường học cơ bản đảm bảo sĩ số học sinh đến lớp, tình trạng học sinh bỏ học giữa chừng đã giảm hẳn, chất lượng giáo dục toàn diện từng bước được nâng cao. Đồng thời, đồng bào các dân tộc thiểu số sẽ giảm bớt được khó khăn, gánh nặng “cơm áo, gạo tiền” cho con em đi học, có điều kiện tập trung lao động sản xuất, xây dựng cuộc sống mới.

        - Chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, vùng đặc biệt khó khăn theo Nghị định 61/2006/NĐ-CP và chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức... vùng đặc biệt khó khăn theo Quyết định 116/2010/NĐ-CP, chỉ tính riêng năm học 2016-2017  đã chi cho các đối tượng được hưởng chính sách gần 175 tỷ đồng.

        Chính sách cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục vùng đặc biệt khó khăn đã động viên kịp thời về vật chất, tinh thần, cải thiện cuộc sống ở vùng ĐBKK để giáo viên  yên tâm công tác, thu hút được nhiều người có trình độ chuyên môn tốt lên công tác vùng có điều kiện kinh tế xã hội ĐBKK.
Việc đầu tư cho giáo dục vùng dân tộc, miền núi đã giúp cho diện mạo giáo dục vùng dân tộc thiểu số và miền núi thực sự thay đổi. Trường lớp được xây dựng kiên cố hóa - hiện đại hóa theo hướng đạt chuẩn quốc gia. Các huyện vùng dân tộc và miền núi đều có trường PTDT Nội trú THCS trên địa bàn huyện, một số xã đặc biệt khó khăn,  đã có hệ thống trường PTDT bán trú. Tạo điều kiện cho con em các dân tộc thiểu số được học tập tốt hơn có chất lượng hơn, tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng giảm hẳn, chất lượng chăm sóc, giáo dục học sinh ngày càng được nâng cao.

        Tuy nhiên giáo dục- đào tạo vùng DTTS hiện nay vẫn còn không ít hạn chế, bất cập đó là:  

        - Mặt bằng giáo dục, trình độ dân trí của đồng bào các DTTS vẫn còn có khoảng cách đáng kể với người Kinh. Chất lượng nguồn nhân lực đồng bào DTTS còn hạn chế, đội ngũ cán bộ DTTS thiếu và một bộ phận yếu về trình độ chuyên môn. Theo đánh giá của Ủy ban Dân tộc và Bộ Giáo dục và Đào tạo tại diễn đàn thường niên về phát triển DTTS năm 2015, vùng đồng bào DTTS so với mặt bằng chung cả nước, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng miền, giữa các dân tộc còn cao và có nguy cơ ngày càng rộng ra, thể hiện ở tỷ lệ biết chữ của trẻ em DTTS là 78% so với tỉ lệ biết chữ chung xấp xỉ 100%, tỷ lệ hộ nghèo DTTS trên 30%, hiện còn hơn 2.000 xã và trên 18.000 thôn, bản đặc biệt khó khăn. (riêng Thái nguyên vẫn còn 36 xã và 542 thôn, bản đặc biệt khó khăn), tuy đã phổ cập tiểu học và đang hoàn chỉnh việc phổ cập THCS nhưng trên địa bàn tỉnh ta có những bản có một số người nhất là phụ nữ vẫn chưa biết đọc, biết viết (xóm Làng  Ươm, Dân tiến, Võ Nhai).

         Mặc dù Đảng, Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều chính sách đối với giáo dục, đào tạo vùng DTTS, tuy nhiên đến nay vẫn chưa thể giải quyết được hết những khó khăn của địa phương. Công tác quản lý giáo dục dân tộc chưa theo kịp thực tiễn phát triển giáo dục ở vùng DTTS, miền núi; công tác chỉ đạo còn thiếu linh hoạt và mang nặng thủ tục hành chính; công tác tham mưu ban hành một số văn bản chỉ đạo  cụ thể chưa kịp thời và phù hợp với tình hình thực tế. Hiện nay, mạng lưới trường lớp, điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị dạy học vùng DTTS đã được tăng cường đầu tư, cải thiện rất nhiều so với trước, tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, nhà ở cho giáo viên nhiều chỗ còn thiếu, kể cả ở một số trường chuyên biệt vùng dân tộc thiểu số (vẫn còn thiếu nhiều phòng học cho các cháu mầm non, thiếu nhiều nhà ở bán trú, bếp ăn, công trình vệ sinh và các điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú…). Quy mô trường học còn nhỏ, trong khi lượng học sinh vùng đặc biệt khó khăn lớn nên nhiều em không được học trường nội trú. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý còn yếu về chất lượng, năng lực thực tế của một bộ phận giáo viên còn hạn chế, đời sống còn khó khăn nên chưa yên tâm công tác.

        - Huyện Định Hóa vẫn chưa được đầu tư cơ sở vật chất để tách hệ nội trú và không nội trú riêng nên hạn chế nhiều trong công tác quản lý giáo dục và tâm lý học sinh. Tỉnh có 5 trường PTDTNT THCS hàng năm có trên 300 học sinh lớp 9 nhưng chỉ có 1 trường THPTDTNT mỗi năm tuyển sinh được 120 học sinh, nên không có đầu ra cho học sinh các trường PTDTNT THCS dẫn đến nhiều học sinh sau khi học xong PTDTNT THCS lại bỏ học.

        - Các chính sách cho giáo dục vùng núi còn nhiều vướng mắc, bất cập như:

        +  Việc hướng dẫn thực hiện các chính sách chưa chặt chẽ, rõ ràng về việc hiểu và xác định thế nào là xã đặc biệt khó khăn chưa rõ nên các đơn vị còn lúng túng khi có thay đổi phân định khu vực.

        + Chính sách về giáo dục cho vùng dân tộc và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn được quy định tại nhiều văn bản, chưa chặt chẽ nên dẫn đến cách hiểu và thực hiện không thống nhất, chồng chéo, có đối tượng được hưởng cùng lúc nhiều chính sách và còn có hiện tượng người ở xã không khó khăn nhưng làm thủ tục chuyển hộ khẩu vào xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn để được hưởng chính sách. 

        + Việc cấp gạo, chi trả tiền chế độ, chính sách hầu hết do phụ huynh nhận. Vì vậy việc sử dụng gạo, tiền hỗ trợ… chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của gia đình, hoặc sử dụng vào mục đích khác. Cấp gạo 2 lần/năm như hiện nay không phù hợp, bởi số lượng gạo nhận một lần nhiều, không có nơi bảo quản, ảnh hưởng đến chất lượng, không mang tính kịp thời cho các em học sinh sử dụng khi đang học tập. Hàng tháng học sinh thiếu gạo ăn, đến kỳ nhận nhiều sử dụng không hết, gia đình học sinh đã bán đi hoặc sử dụng vào mục đích khác. Việc đóng gói hầu hết là 50kg/bao, gây khó khăn cho việc cấp phát (trong khi theo quy định đóng gói 1 bao chỉ 15kg, 30kg, 45kg); Trong chính sách không cấp kinh phí cho việc vận chuyển, phân phối và bốc xếp gạo từ trung tâm huyện về trường học gây khó khăn cho các nhà trường.

        + Việc chi trả chế độ cho học sinh còn chậm (có tình trạng năm sau mới được nhận hỗ trợ của năm trước), có tình trạng học sinh ra trường chưa được cấp hỗ trợ theo chính sách.

        + Trong quá trình thực hiện các chính sách, không ít nơi, công tác tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện ở cơ sở còn hạn chế, chủ yếu triển khai đến cấp xã và ban giám hiệu nhà trường, chưa phổ biến đến với cán bộ, giáo viên và nhân dân. Trong khi đó, nhận thức của người dân ở một số địa phương còn hạn chế, không ít gia đình coi đây là chính sách giảm nghèo, nên cho con em mình đi học để  được hưởng chính sách hỗ trợ, chứ chưa vì mục đích chính là học tập. 

        + Chất lượng giáo dục ở vùng đặc biệt khó khăn còn hạn chế, do đó ảnh hưởng đến chất lượng của đối tượng cử tuyển, còn nhiều em học không đạt yêu cầu (ví dụ như năm học 2014-2015 có 93 em sinh viên học hệ cử tuyển đang học tại các trường thì có 5 em học dự bị không đạt yêu cầu có thông báo trả về địa phương, UBND tỉnh đã ra văn bản cho phép học lại dự bị; 04 em sinh viên chính thức chưa hoàn thành tín chỉ học theo quy định; có em phải chuyển xuống học hệ cao đẳng do học yếu không theo được chương trình đại học; có em học yếu phải xin nghỉ học;  một số em phải học lại nhiều năm, điển hình có em 9 năm chưa ra được trường)

        - Bên canh đó việc sắp xếp việc làm cho sinh viên cử tuyển ra trường còn gặp khó khăn, việc tuyển dụng công chức, viên chức phải thi tuyển hoặc xét tuyển thì đối tượng sinh viên cử tuyển thường thấp hơn các đối tượng khác nên không có cơ hội trúng tuyển; thời gian đào tạo cử tuyển từ 5 đến 7 năm nên những vị trí việc làm đã được bố trí để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Do đó năm 2017, tỉnh báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo không có đăng ký đào tạo cử tuyển.

        + Một số nơi xảy ra tình trạng vì có chính sách thu hút nên một số trường không thuộc xã đặc biệt khó khăn nhưng có điểm trường nằm trên địa bàn xóm đặc biệt khó khăn thì các giáo viên muốn chuyển đến công tác ở điểm trường đó để được hưởng chính sách. 

        Nguyên nhân:

      - Nguyên nhân chính dẫn đến sự yếu kém, ngoài đặc thù vùng núi cao khó khăn còn do sự yếu kém trong công tác quản lý, chỉ đạo ở một số địa phương; bộ phận cán bộ quản lý giáo dục chưa nhận thức đầy đủ về các quan điểm chủ trương của đảng, nhà nước về chính sách giáo dục - đào tạo vùng dân tộc, miền núi , kiến thức quản lý, lý luận chính trị còn hạn chế, chưa có sự chỉ đạo thống nhất và đồng bộ, thiếu kinh nghiệm và nhất là chậm đổi mới tư duy và phương thức quản lý. Một bộ phận giáo viên vẫn còn chậm đổi mới phương pháp, chưa trau dồi thêm kiến thức, chưa thực sự tâm huyết với nghề.

        - Vấn đề dạy học chưa được quan tâm đến chất lượng thực sự mà vẫn chạy theo thành tích nhiều.

       -  Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ sở Giáo dục và Đào tạo chưa tham mưu cho UBND tỉnh có một sự chỉ đạo thống nhất. Trong hệ thống giáo dục của tỉnh thì có 2 sự chỉ đạo khác nhau Sở Giáo dục - Đào tạo chỉ đạo các trường Cao đẳng, PTTH các trường Dân tộc nội trú. Ở các Huyện, Thành phố, Thị xã thì chỉ đạo các trường THCS, Tiểu học, Mần non.

        - Công tác kiểm tra không thường xuyên Chính quyền thì giao khoán cho ngành giáo dục, ngành giáo dục trông chờ vào chính quyền các cấp.
Để thực hiện tốt hơn chính sách phát triển giáo duc- đào tạo vùng dân tộc,miền núi trên địa bàn tỉnh cần tập trung giải quyết tốt mấy vấn đề sau:

        1.Về chỉ đạo: 

        - Trong chiến lược xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng công tác giáo dục- đào tạo, coi đây là quốc sách hàng đầu, nhằm đạt 3 mục tiêu là nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào DTTS và vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Thời gian tới, để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo vùng DTTS, miền núi cần có sự phối hợp, tham gia của nhiều bộ, ban ngành có liên quan, của cấp ủy, chính quyền các địa phương.

        - Bên cạnh đó, cần rà soát chính sách phát triển giáo dục- đào tạo vùng DTTS để đề xuất với Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan sửa đổi, bổ sung, ban hành mới chính sách phát triển giáo dục, đào tạo vùng DTTS giai đoạn mới cho phù hợp để khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa vùng vúi với vùng xuôi được gần lại. Đồng thời tăng cường phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí thực hiện tốt công tác tuyên truyền về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về giáo dục dân tộc. Trên cơ sở đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa phát triển giáo dục đào tạo vùng DTTS, miền núi.

        - Khắc phục cho được chạy theo bệnh thành tích không chú ý đến vấn đề chất lượng dạy và học. 

        2. Về chính sách:

        - Tăng cường Chính sách đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho các trường phổ thông và trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú theo hướng đồng bộ, hiện đại.

        - Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi, chính sách tín dụng sinh viên, hỗ trợ đối với học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số ở những vùng khó khăn.

        - Chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ quản lí và giáo viên đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, tăng dần tỷ lệ giáo viên người dân tộc, người địa phương.

        - Tiếp tục có các chế độ chính sách cho giáo viên, người học vùng dân tộc, miền núi; Chính sách thỏa đáng thu hút nhà giáo đến công tác ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; Việc dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, giáo viên công tác ở vùng dân tộc thiểu số thực sự có chất lương, không chí có chứng chỉ để được thi nâng ngạch và phục vụ làm đẹp hồ sơ cán bộ; Bảo đảm đủ nhà công vụ cho cán bộ, giáo viên.

        -  Chú trọng chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá để nâng cao chất lượng dạy và học; Thực hiện có hiệu quả việc dạy học tiếng dân tộc thiểu số.

        3. Về tổ chức thực hiện: 

       - Ngành giáo dục cần phối hợp chặt chẽ với các ngành liên quan tham mưu cho UBND tỉnh  có các văn bản hướng dẫn, triển khai thực hiện từng chính sách giáo dục vùng dân tộc và miền núi. Hàng năm có sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả, hiệu quả của chính sách.

        - Cần rà soát lại qui mô các trường lớp, nhất là các điểm trường lẻ có 3- 4 lớp chỉ có dưới 10 học sinh để có phương án sắp xép lại cho phù hợp tránh để lãng phí đầu tư và nguồn nhân lực của ngành giáo dục.

        - Các cấp chính quyền cơ sở quản lý  chặt chẽ hơn để tránh tình trạng không sinh sống ở địa phương nhưng có hộ khẩu ở tại địa bàn  để được hưởng chính sách.

         - Các chính sách hỗ trợ cho học sinh phải kịp thời để học sinh có kinh phí phục vụ trong quá trình học tập.

         - Tăng cường công tác tuyên truyền để người dân có ý thức nâng cao trách nhiệm trong việc động viên con em đến trường.

         - Khắc phục cho được chạy theo bệnh thành tích không chú ý đến vấn đề chất lượng dạy và học. 

        - Cán bộ các cấp các ngành cần nghiên cứu kỹ các văn bản của Nhà nước về việc xác định  thôn, bản,  xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để khi có sự thay đổi về phân định khu vực các đơn vị thực hiện không bị lúng túng.

        - Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong công tác chỉ đạo thực hiện các chính sách. 

        4. Đề nghị Chính phủ và các Bộ, Ngành trung ương:

        - Rà soát lại các chính sách không để manh mún và chồng chéo, đồng thời có các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách đơn giản, phù hợp với thực tế ở cơ sở.

        - Có chính sách đầu tư xây dựng bếp ăn, nhà ăn tập thể, kinh phí nấu ăn cho các trường PTDT bán trú và cấp gạo, kinh phí hỗ trợ cho học sinh về bếp ăn nhà trường; không cấp gạo và tiền hỗ trợ cho học sinh như hiện nay.

        - Mở rộng quy mô hệ thống trường Nội trú bậc THPT nhằm giải quyết tốt đầu ra cho các trương DTNT THCS.  Để giảm tình trạng bỏ học bậc THPT trong vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn.

        - Có chính sách riêng cho giáo viên nói được tiếng dân tộc với cấp học học Mầm non để các cháu mầm non tiếp cận được tiếng Việt được dễ dàng.

        - Có chính sách đầu tư trường phổ thông dân tộc bán trú bậc Tiểu học cho xã đặc biệt khó khăn có nhiều xóm xa trung tâm xã, đi lại quá khó khăn để không còn tình trạng 1 lớp học tại điểm trưởng chỉ có 1 đến 3 học sinh, trong khi phải xây dựng điểm trường, 1 thầy cô giáo dạy 3- 5 lớp học chỉ trong 1 phòng học chưa đến 10 học sinh. 

        - Tăng mức hỗ trợ cho học sinh học các trường phổ thông dân tộc bán trú và trường phổ thông dân tộc nội trú để các em đảm bảo đủ mức sinh hoạt hàng ngày./.

                                            Nông Văn Trân 

CVCC - Phó Trư ởng Ban Dân tộc tỉnh

 

Các tin khác