Thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên (10/07/2017)
       Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng trung du miền núi Bắc Bộ, có 9 đơn vị hành chính cấp huyện (06 huyện, 02 thành phố, 01 thị xã ; trong đó có 04 huyện miền núi, 01 huyện vùng cao); 180 xã, phường, thị trấn, trong đó 62 xã, thị trấn thuộc vùng ATK. Có diện tích tự nhiên trên 3.500 km2, dân số trên 1,2 triệu người gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là trên 339 nghìn người, chiếm 27% dân số toàn tỉnh.  
        Vùng dân tộc thiểu số, miền núi có 124 xã, thị trấn, với 1.985 xóm, bản, dân số trên 660 nghìn người (chiếm gần 59% dân số toàn tỉnh), được phân định thành 3 khu vực (I, II, III) theo trình độ phát triển: có 25 xã, thị trấn thuộc khu vực I; 63 xã, thị trấn thuộc khu vực II và 36 xã thuộc khu vực III. (được công nhận theo quyết định số Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ). Tỷ lệ hộ nghèo 16,24%, giảm 2,98% so với năm 2016; hộ cận nghèo hộ 12,49% giảm 0,06% so với năm 2016.
        Đề án “Thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên", được phê duyêt tại Quyết định số 1577/QĐ-UBND ngày 22/7/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên, đây là Đề án tiếp tục thực hiện việc hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo các Quyết định 134/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 và Quyết định 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ.Theo Đề án phê duyệt số hộ thiếu đất ở là : 894 hộ với 17,8 ha. Số hộ thiếu đất sản xuất 10.386: đề nghị hỗ trợ trực tiếp đất sản xuất là 1.836 hộ với tổng diện tích là 365,86 ha, trong đó số hộ thiếu đất sản xuất đề nghị hỗ trợ chuyển sang hình thức đào tạo nghề, chuyển đổi ngành nghề: 1.641 lao động; Số hộ thiếu đất sản xuất đề nghị hỗ trợ mua sắm nông cụ máy móc làm dịch vụ sản xuất nông nghiệp: 8.550 hộ, hỗ trợ đi xuất khẩu lao động: 126 lao động. Tổng số hộ thiếu nước sinh hoạt: 28.809 hộ, trong đó: Số hộ cần hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán là 12.194 hộ. Số hộ có thể sử dụng nước sinh hoạt do đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung là 16.615 hộ và cần đầu tư xây dựng 247 công trình; Cần duy tu bảo dưỡng 57 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung cho 4.442 hộ. Với tổng kinh phí thực hiện Đề án là: 664.212 triệu đồng; Gồm các nguồn: Ngân sách Trung ương: 615.817,6 triệu đồng (trong đó: Ngân sách Trung ương đầu tư, hỗ trợ là: 415.066,2 triệu đồng; Ngân sách Trung ương bổ sung cho ngân sách địa phương theo khoản 2, Điều 4 Quyết định số 755: là: 39.921,4 triệu đồng; Ngân sách địa phương: 48.394,4 triệu đồng; Vốn vay tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội là: 160.830 triệu đồng.
         Qua 6 năm thực hiện chính sách: Giai đoạn năm 2010-2012 đây là giai đoạn tiếp tục thực hiện Quyết định 1592/QĐ-TTg ngày 12/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ về “Tiếp tục thực hiện một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt đến hết năm 2010 cho đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn”. Giai đoạn này chủ yếu hỗ trợ xậy dựng các công trình cấp nước sịnh hoạt tập trung, đã đầu tư xây dựng được 37 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung cho 38 xóm, bản cho 2.253 hộ dân được hưởng lợi với tổng kinh phí đầu tư là 31.092 triệu đồng. Từ năm 2014-2016: thực hiện Quyết định số 755/QĐ-TTg: Tổng kinh phí thực hiện năm 2014-2017 ngân sách Trung ương cấp là 62.287,8 triệu đồng (đạt 15%). Hỗ trợ đất sản xuất cho 272 hộ, kinh phí 4.085,6 triệu đồng ( đạt 13,2% ); Hỗ trợ mua sắm máy móc, nông cụ cho 8.046 hộ (đạt 94,1% số hộ) với kinh phí là 40.231,7 triệu đồng;  Hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 11.091 hộ ( đã đạt 91%) với kinh phí là 14.418,3 triệu đồng, nội dung này cơ bản hòan thành so với Đề án phê duyệt còn 9% số hộ là do không còn nhu cầu hoặc đã hưởng chính sách khác. Đầu tư xây dựng mới 03 công trình và duy tu sửa chữa 06 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung với kinh phí là 3.552,2 triệu đồng.
        Thông qua việc thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn đặc biệt khó khăn theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, đồng bào dân tộc thiều số vùng sâu, vùng xa đã giải quyết được phần nào những khó khăn về đất sản xuất, nnước sinh hoạt, bà con  được tiếp cận với nguồn nước sạch, từ đó góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống người dân, tỷ lệ hộ nghèo giảm rõ rệt.Tỷ lệ hộ gia đình trong vùng dân tộc miền núi được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh được nâng lên hằng năm, tính đến hết năm 2016, tỷ lệ dân số trong vùng dân tộc miền núi được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh đạt 79% ( toàn tỉnh 85% ). Đây là kết quả khả quan khẳng định hiệu quả thiết thực đem lại từ việc thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho vùng đồng bào dân tộc miền núi.
        Tuy nhiên cũng còn một số bất cập của chính sách và việc triển khai thực hiện chính sách như:
        - Việc hỗ trợ đất ở chưa thực hiện được do các địa phương không còn quỹ đất để bố trí trong khi đó tỉnh cũng chưa bố trí được ngân sách để thực hiện chính sách này.
        - Việc lấy mức bình quân đất đai của tỉnh để làm căn cứ xác định các hộ thiếu đất sản xuất là thiếu phù hợp nên đã làm cho số hộ thiếu đất sản xuất của tỉnh Thái Nguyên tăng nhiều so với giai đoạn trước đây thực hiện QĐ 134 (khi thực hiện QĐ 134 Chính phủ quy định các hộ có dưới 2500m2 đất 01 vụ là hộ thiếu đất sản xuất, tại Quyết định 755 quy định lấy bình quân toàn tỉnh như vậy tỉnh Thái Nguyên bình quân 3.815m2 đất ruộng 1 vụ, những hộ dưới 3.815m2 là thiếu đất sản xuất)
        - Đề án khi lập và phê duyệt thì có nội dung hỗ trợ xây dựng các công trình cấp nước tập trung nhưng khi có hướng dẫn triển khai và cấp ngân sách thực hiện lại không có nội dung xây dựng các công trình cấp nước tập trung.
        - Nguồn ngân sách cho thực hiện chính sách không đáp ứng yêu cầu thực tế, mức hỗ trợ cho việc khai hoang đất sản xuất rất thấp (ngân sách hỗ trợ 5 triệu đồng và được vay tín dụng ưu đãi 15 triệu đồng/1 ha)  nên việc hỗ trợ đất sản xuất trực tiếp hầu như chưa thực hiện được, chủ yếu hỗ trợ thông qua đào tạo nghề; mua máy móc chuyển đổi ngành nghề và sự chuyển đổi ngành nghề này là không bền vững, các hộ thiếu đất sản xuất vẫn cứ thiếu.
        - Các địa phương không bố trí được kinh phí quản lý chỉ đạo nên gặp không ít khó khăn trong quá trình triển khai, kinh phí hỗ trợ ít, thủ tục thanh quyết toán rườm rà, phức tạp.
        Theo Đề án “Thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo Quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên", được phê duyêt tại Quyết định số 1577/QĐ-UBND ngày 22/7/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên chưa thực hiện giai đoạn 2017-2020 cần tiếp tục thực hiện chính sách là: số hộ thiếu đất ở là : 894 hộ với 17,8 ha; 244 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung cho 16.615 hộ; 57 công trình nước sinh hoạt tập trung cần phải duy tu, sửa chữa để cấp nước sinh hoạt cho 4.442 hộ; 1.564 hộ thiếu đất sản xuất có nhu cầu hỗ trợ và ở giai đoạn tới số hộ nghèo sẽ tăng lên theo chuẩn mới vì vậy số hộ nghèo thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt tiếp tục phát sinh.
        Ngày 31/10/2016 , Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 2085/QĐ-TTg  phê duyệt Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020. Mục tiêu của chính sách là:Tập trung giải quyết những vấn đề khó khăn, bức xúc nhất về đời sống, sản xuất; từng bước cải thiện và nâng cao điều kiện sống cho hộ dân tộc thiểu số nghèo, hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn; góp phần giảm nghèo bền vững, giảm dần chênh lệch trong phát triển giữa vùng dân tộc thiểu số và miền núi với các vùng khác trong cả nước.
        Như vậy chính sách tập trung giải quyết 3 vấn đề đó là:  hỗ trợ những hộ dân thiếu đất ở;  hỗ trợ những hộ thiếu đất sản xuất; hỗ trợ những hộ thiếu nước sinh hoạt; hỗ trợ vay vốn tín dụng ưu đãi.
        Ngày 22/5/2017 Bộ Trưởng Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc đã có Thông tư số 02/2017/TT-UBDT. Hướng dẫn thực hiện Quyết định số 2085/QĐ-TTg và Công văn số 468/UBDT-CSDT ngày 26/5/2017 của Ủy ban Dân tộc về việc triển khai xây dựng Đề án thực hiện Quyết định số 2085/QĐ-TTg. Ngày 12/6/2017, UBND tỉnh đã có Công văn số2287/UBND-NC về việc rà soát đối tượng thụ hưởng chính sách đặc thù theo Quyết định số 2085/QĐ-TTg, toàn tỉnh đang phải tập trung rà soát các hộ dân thuộc đối tượng thụ hưởng chính sách để tiếp tục lập “ Đề án thực hiện Quyết định số 2085/QĐ-TTg về thực hiện Chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020”.
        Trong giai đoạn 2017-2020 bằng các nguồn vốn tiếp tục bố trí hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Tập trung đầu tư xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung tại một số địa bàn trọng điểm nhân dân có nhu cầu bức xúc về nước sinh hoạt đưa tỉ lệ đân số trong vùng được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh lên 85%, giải quyết cơ bản những hộ dân thiếu đất sản xuất, nước sinh hoạt. Về đất ở là vấn đề hết sức khó khăn nên trong khi xây dựng Đề án cần đề nghị các ngành có liên quan tham mưu với UBND tỉnh chỉ đạo sát sao việc bố trí quỹ đất, nguồn ngân sách, gắn vân đề hỗ trợ đất ở với vấn đề xậy dựng nhà ở một cách đồng bộ để chính sách này được thực hiện có hiệu quả.
        Về các công trình nước sinh hoạt tập trung đã được đầu tư xây dựng từ trước đến nay, tiếp tục tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng bền vững, UBND các huyện chỉ đạo UBND các xã trong vùng cần rà soát, đánh giá việc thực hiện giao công trình cấp nước sinh hoạt tập trung cho các đối tượng quản lý, cơ chế quản lý vận hành. Các công trình đã giao đang hoạt động có hiệu quả, tiếp tục giao cho đối tượng quản lý, sử dụng khai thác; các công trình chưa được giao cho đối tượng quản lý hoặc giao quản lý, vận hành chưa hiệu quả, tổ chức thực hiện đánh giá, xác định giá trị còn lại thực tế của từng công trình gắn với thời gian sử dụng thực tế để có biện pháp phù hợp tổ chức quản lý vận hành được tốt hơn, hiệu quả hơn. 
Nông Văn Trân- Chuyên viên cao cấp - Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên
bản đồ hành chính
Quảng Cáo
   
Liên kết web

BAN DÂN TỘC TỈNH THÁI NGUYÊN

Địa chỉ: Số 17, đường Đội Cấn, phường Trưng Vương, TP Thái Nguyên

Điện thoại: 0280 3651 864 - Fax: 0280 3651 864

Email: bandantoc@thainguyen.gov.vn

Ghi rõ nguồn Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên (http://www.bandantoc.thainguyen.gov.vn) khi phát hành thông tin từ website này

Bản quyền © 2015 Ban Dân Tộc Tỉnh Thái Nguyên. Bảo lưu toàn quyền

Phát triển bởi Unitech trên nền tảng Chính quyền điện tử (Da Nang Egov Platform) do UBND TP Đà Nẵng chuyển giao