Thực hiện công tác dân tộc, chính sách dân tộc trong tình hình hiện nay (10/07/2017)
        Trong bối cảnh nước ta đang chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; đồng thời, xuất hiện những khó khăn, thách thức mới đan xen. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để các dân tộc trong nước cùng phát triển trong quá trình phân công lao động, sử dụng tài nguyên, tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại…Bên cạnh đó, có thể phát sinh những tiêu cực tác động đến nhiều mặt trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, đó là sự phân hóa giàu nghèo, đạo đức xã hội xuống cấp, bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc bị mai một, môi trường sinh thái đang bị xâm hại nghiêm trọng; các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng âm mưu “Diễn biến hòa bình”, chúng lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để xuyên tạc chế độ, kích động, chống lại chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. 
        Thái Nguyên là một tỉnh nằm ở vùng trung du miền núi Bắc Bộ, có 9 đơn vị hành chính cấp huyện (06 huyện, 02 thành phố, 01 thị xã ; trong đó có 04 huyện miền núi, 01 huyện vùng cao); 180 xã, phường, thị trấn, trong đó 62 xã, thị trấn thuộc vùng ATK. Có diện tích tự nhiên trên 3.500 km2, dân số gần 1,2 triệu người, gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số là trên 339 nghìn người, chiếm trên 27% dân số toàn tỉnh. Vùng dân tộc thiểu số, miền núi có 124 xã, thị trấn, với 1.985 xóm, bản, dân số trên 660 nghìn người (chiếm gần 59% dân số toàn tỉnh), được phân định thành 3 khu vực (I, II, III) theo trình độ phát triển: có 25 xã, thị trấn thuộc khu vực I; 63 xã, thị trấn thuộc khu vực II và 36 xã thuộc khu vực III được công nhận theo quyết định số Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ. Tỷ lệ hộ nghèo 16,24%, giảm 2,98% so với năm 2016; hộ cận nghèo hộ 12,49% giảm 0,06% so với năm 2016.
        Trong những năm qua trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số của tỉnh đã triển khai thực hiện  thực hiện nhiều chương trình chính sách dân tộc, các chương trình phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc,  miền núi và đã đạt được những thành tựu to lớn:
         Đã hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện để cải thiện, nâng cao cuộc sống, ổn định sản xuất góp phần xóa đói giảm nghèo; kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội vùng dân tộc miền núi có nhiều chuyển biến tích cực; Cơ sở hạ tầng ở các xã miền núi, vùng cao, xã đặc biệt khó khăn được cải thiện rõ rệt, bước đầu đáp ứng nhu cầu phát triển sản xuất và phục vụ đời sống của đồng bào các dân tộc, nhất là hệ thống đường giao thông, điện sinh hoạt, trường học, trạm y tế ...; Sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn đã có bước chuyển biến tích cực theo hướng đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ và sản xuất hàng hoá. Các chính sách tín dụng, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất... đã tạo điều kiện trực tiếp cho các hộ đồng bào dân tộc nghèo có điều kiện thoát nghèo và ổn định cuộc sống, góp phần tích cực cho công tác xoá đói giảm nghèo; Trình độ dân trí được nâng lên, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường được duy trì ở mức cao. Công tác chăm sóc sức khỏe được quan tâm, người dân thuộc hộ nghèo và người dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn được cấp thẻ bảo hiểm y tế và khám chữa bệnh miễn phí. Các hoạt động văn hóa, thể thao luôn được quan tâm; bản sắc văn hóa được phát huy; các phong tục tập quán lạc hậu dần được xóa bỏ; Đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số ở các xã miền núi, vùng cao từng bước được nâng cao về trình độ, năng lực, được quan tâm hơn về chế độ, chính sách; đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; tích cực tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực, nhất là cuộc vận động chung sức xây dựng nông thôn mới; Vai trò của các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm, chú trọng và phát huy, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 
        Tuy nhiên việc triển khai thực hiện các Chương trình chính sách dân tộc vẫn còn những khó khăn, hạn chế đó là: nguồn vốn trung ương giao còn chậm (vốn năm 2011, 2012, 2014) và việc hướng dẫn cơ chế thực hiện của các bộ ngành trung ương chưa kịp thời; năm 2014-2015: trung ương bố trí chưa đủ so với định mức tại Quyết định số 551/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ( số vốn được bố trí mới chỉ đạt 66,7% kế hoạch); các công trình đầu tư mới, cần có sự phối hợp, lồng ghép với vốn chương trình xây dựng nông thôn mới và các nguồn khác; cơ chế quản lý, lồng ghép các nguồn lực còn thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ, vì vậy chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của chương trình, dự án (vì các chương trình cơ chế quản lý khác nhau, quy định việc đối ứng của người dân khác nhau); việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các chương trình Dự án còn chậm, có nội dung hướng dẫn chưa phù hợp đã ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện; thủ tục giao vốn còn rườm rà, chậm; tiến độ triển khai thực hiện chính sách ở một số huyện còn chậm, công việc thường dồn về cuối năm; việc tổng hợp báo cáo của các huyện với cơ quan thường trực ở tỉnh chưa đầy đủ, kịp thời, ở cấp huyện giao cho nhiều phòng chuyên môn triển khai thực hiện các chương trình chính sách dân tộc; công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách của số huyện chưa được thường xuyên.
        Nguyên nhân
       - Nhận thức của cấp ủy, chính quyền ở một số địa phương về công tác dân tộc chưa đẩy đủ, chưa toàn diện; sự phối kết hợp trong việc tổ chức thực hiện giữa các ngành, các cấp chưa chặt chẽ, chưa cụ thể hóa và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của địa phương.
        - Công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số tuy được quan tâm nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống tổ chức, cán bộ làm công tác dân tộc từ tỉnh đến cơ sở chưa ổn định, thiếu kinh nghiệm, đặc biệt là ở cấp xã chưa có cán bộ chuyên trách theo dõi công tác dân tộc, hầu hết là giao kiêm nhiệm và cũng chưa có sự thống nhất giữa các địa phương.
        - Số ít cán bộ và nhân dân trong vùng còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động tích cực vươn lên thoát nghèo.
        Do đó, để thực hiện tốt chính sách dân tộc và công tác dân tộc trong tình hình hiện nay đòi hỏi các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương, các ban, ngành đoàn thể chính trị cần được tăng cường thông qua việc thực hiện đồng bộ và cụ thể, thiết thực những giải pháp sau đây:
        Thứ nhất: Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên các đoàn thể, học sinh, sinh viên, tri thức và đồng bào các dân tộc thiểu số thấy rõ những thành tựu kinh tế xã hội của tỉnh đạt được trong thời gian qua, trong đó có vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; nhận thức đúng đắn các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số, tạo sự thống nhất về nhận thức tư tưởng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước; phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc, ý thức tự lực tự cường, đề cao tinh thần cảnh giác, cùng nhau xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Công tác tuyên truyền phải được tiến hành bằng nhiều hình thức thích hợp để đồng bào dân tộc thiểu số hiểu và thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
        Thứ hai: Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xây dựng nông thôn mới. Tập trung triển khai xây dựng nhanh các công trình trọng điểm. Tiếp tục đầu tư tạo cơ hội cho nông dân, nhất là những nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số chuyển đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi, thúc đẩy phát triển sản xuất để tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích và tăng giá trị thu nhập cho người lao động. Quy hoạch và đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, thuỷ lợi phục vụ nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm. Xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp, nông hộ hoàn chỉnh, mô hình sản xuất, kinh doanh tổng hợp để nhân rộng. Tăng cường trang bị kiến thức cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo biết lập kế hoạch sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm; đồng thời, có chính sách phát huy khả năng và tiềm năng về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của một số dân tộc có trình đọ phát triển cao hơn.
        Thứ ba: Tiếp tục đầu tư xây dựng các cơ sở dạy nghề, nhất là dạy nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số. Khuyến khích và đa dạng hóa hình thức đào tạo nghề theo yêu cầu của thị trường lao động, chú trọng đào tạo và cung ứng lao động kỹ thuật làm việc trong các khu công nghiệp; thực hiện tốt hơn chính sách về dạy nghề cho lao động nông thôn, trong đó có lao động là người dân tộc thiểu số. Phát triển mạnh dịch vụ cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, gắn với đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động...
        Thứ tư: Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các chính sách, dự án hỗ trợ cho người nghèo. Tập trung chỉ đạo giải quyết cơ bản về đất ở, đất sản xuất, nhà ở, điện, nước sinh hoạt theo chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Song song đó, đẩy mạnh giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo.
        Thứ năm: Thực hiện tốt chính sách tín dụng đối với người nghèo, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, chú trọng đổi mới qui trình, thủ tục cho vay, nhằm tạo điều kiện giúp cho người dân tộc thiểu số nghèo có nhu cầu được vay vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi, kịp thời và đúng thời vụ để phát triển sản xuất.
        Thứ sáu: Tiếp tục phát triển mạnh và thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ chính sách về giáo dục dân tộc; không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là hệ thống các trường dân tộc nội trú các cấp. Đẩy nhanh chương trình kiên cố hóa trường, lớp học; nâng cao chất lượng  trường dân tộc nội trú ở các huyện Định Hóa , Đại Từ, Phú Lương, Võ Nhai, Đồng Hỷ. Tiếp tục đầu tư nâng cấp Trường Trung học phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh và các trường Tiểu học, THCS bán trú vùng dân tộc thiểu số. Triển khai có chất lượng chương trình, sách giáo khoa tiếng dân tộc ở tiểu học và trung học cơ sở. Thực hiện tốt chương trình phổ cập giáo dục trung học phổ thông trong đồng bào dân tộc thiểu số.
Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy song ngữ là người dân tộc thiểu số ở các cấp học. Xây dựng nhà trẻ, trường mẫu giáo, dạy nghề cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú gắn với đa dạng hóa, phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc thiểu số. miền núi. Thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách cử tuyển, chính sách đối với học sinh dân tộc thiểu số ở các trường dân tộc nội trú và các trường phổ thông khác.
        Thứ bảy: Triển khai thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Thực hiện tốt chế độ bảo hiểm y tế và các chương trình y tế quốc gia trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em. Tiếp tục củng cố mạng lưới y tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Đẩy mạnh các hoạt động y tế dự phòng, vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh môi trường, góp phần hạn chế dịch bệnh.
        Tiếp tục đẩy mạnh phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng các mô hình hoạt động văn hoá - thông tin trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Quan tâm xây dựng hệ thống các thiết chế văn hoá, đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật cho hoạt động văn hoá - thông tin vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn nghệ thuật tỉnh, các đội thông tin lưu động, các tụ điểm văn hoá, các câu lạc bộ đàn hát dân ca và các đội nhóm văn nghệ quần chúng. Tăng thêm thời lượng và nâng cao chất lượng các hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc. Làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn, phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hoá của các dân tộc, nhất là duy trì, phát triển các lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số và nâng một số lễ hội lên tầm khu vực và  quốc gia.
        Thứ tám: Tăng cường giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt là vạch trần những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, làm cho đồng bào không nghe, không tin và không làm theo sự xúi giục của bọn chúng. Coi trọng công tác nắm tình hình, tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số. Thường xuyên củng cố tình đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào các dân tộc. Giáo dục đồng bào chấp hành đúng các qui định của Nhà nước. Xây dựng quy chế và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng quân đội, công an, các đoàn thể trong công tác nắm tình hình, quản lý chặt đối tượng và đấu tranh vô hiệu hoá các hoạt động phá hoại của bọn xấu và các thế lực thù địch. Đẩy mạnh thực hiện chương trình phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc. Tập trung chỉ đạo giải quyết đúng pháp luật các vụ việc khiếu kiện có liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là vấn đề giải toả, bồi hoàn, tranh chấp đất đai, không để kéo dài, phức tạp, không để xảy ra điểm nóng.
        Thứ chín: Tăng cường củng cố, xây dựng hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, nhất là ở cơ sở, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị ở cơ sở nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số; quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý người dân tộc ít người của tỉnh theo Quyết định 449/QĐ-TTg của Chính phủ về chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực trong giai đoạn phát triển mới. Đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, dân tộc; chăm lo, đãi ngộ đối với cán bộ là người dân tộc thiểu số và cán bộ công tác ở vùng dân tộc, miền núi, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong xây dựng và bảo vệ Tố quốc. Quan tâm phát triển đảng viên trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Làm tốt công tác phát triển đoàn viên, hội viên là người dân tộc thiểu số.
        Tăng cường củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy cán bộ cơ quan dân tộc từ tỉnh đến cơ sở và các cơ quan tham mưu, giúp việc liên quan đến công tác dân tộc ở các huyện, thành, thị. Xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng cốt cán và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số trong việc thực hiện chính sách dân tộc, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh ở địa phương.  
         Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể không ngừng đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động và đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt việc công khai hóa các chính sách, chương trình, dự án, vốn đầu tư… để đồng bào biết và tham gia quản lý, giám sát quá trình thực hiện. Vận động đồng bào dân tộc thiểu số phát huy truyền thống đoàn kết các dân tộc, ý thức tự lực tự cường, tinh thần tự lực vươn lên, khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Chú trọng sơ kết, tổng kết, nhân rộng những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, các mô hình sản xuất, kinh doanh, xoá đói giảm nghèo có hiệu quả trong đồng bào dân tộc. Đồng thời tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh thực hiện tốt Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc và Chỉ thị số 1971/CT-TTG của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác dân tộc thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
        Tóm lại: Với những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước và những kết quả đạt được trong công tác dân tộc thời gian qua, chúng ta tin tưởng rằng các dân tộc thiểu số tỉnh nhà trong đại gia đình Việt Nam luôn bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đồng thời chính sách đầu tư, chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng và Nhà nước, trong những năm gần đây, đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh đã được ưu tiên nhiều chính sách hỗ trợ phát triển thoát nghèo, lồng ghép các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội kết hợp với đẩy mạnh hỗ trợ vốn để nông dân có nguồn lực đầu tư ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Chăm lo an sinh xã hội, nhằm từng bước thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, góp phần tích cực vào việc xóa đói, giảm nghèo; nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần đồng bào dân tộc. Nhờ vậy, đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số đã không ngừng phát triển, kinh tế gia đình vươn lên, bộ mặt nông thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi đang thay đổi nhanh chóng từng ngày. Có được chính sách quan tâm, đãi ngộ tốt, đồng bào các dân tộc thiểu số luôn phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và có tinh thần đoàn kết với cộng đồng, cùng chung tay, ra sức xây dựng nông thôn mới, xây dựng quê hương ngày một phát triển, giàu đẹp, văn minh và thịnh vượng.
Nông Văn Trân - Chuyên viên cao cấp, Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên.
Các tin khác
bản đồ hành chính
Quảng Cáo
   
Liên kết web

BAN DÂN TỘC TỈNH THÁI NGUYÊN

Địa chỉ: Số 17, đường Đội Cấn, phường Trưng Vương, TP Thái Nguyên

Điện thoại: 0280 3651 864 - Fax: 0280 3651 864

Email: bandantoc@thainguyen.gov.vn

Ghi rõ nguồn Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên (http://www.bandantoc.thainguyen.gov.vn) khi phát hành thông tin từ website này

Bản quyền © 2015 Ban Dân Tộc Tỉnh Thái Nguyên. Bảo lưu toàn quyền

Phát triển bởi Unitech trên nền tảng Chính quyền điện tử (Da Nang Egov Platform) do UBND TP Đà Nẵng chuyển giao